SBV đã sai những gì những năm qua: Phần 10 : Râu ông TÂY cắm cằm girl Vịt

Những bình luận ngoài phạm vi kỹ thuật điều hành của SBV sẽ bị xóa. Ở đây chúng ta chỉ trao đổi về các vấn đề mang tính kỹ thuật. Các bình luận mang tính suy đoán, thuyết âm mưu, quan điểm chính trị, phản ứng cảm tính hoặc có xu hướng tranh luận không mang tính chuyên môn sẽ không được chấp nhận.
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, SBV đã ban hành nhiều quy định theo chuẩn quốc tế, đặc biệt là áp dụng các nguyên tắc từ Basel gần như nguyên bản vào hệ thống.
Tuy nhiên điều tôi chưa hiểu là: Basel cho phép mức độ linh hoạt rất lớn trong quản trị bảng cân đối, với tư duy quản trị mang tính tổng thể và rộng hơn. Trong khi đó, ở Việt Nam việc điều hành vẫn dựa khá nhiều vào Thông tư 22, vốn có tiền thân là Thông tư 36/2014, tức là một khung pháp lý đã tồn tại hơn 12 năm.
Một điểm nữa tôi thấy khá khó hiểu là: có những giai đoạn SBV nới lỏng cung tiền rất mạnh, thậm chí cho phép những nguồn vốn không thực sự ổn định như TGKB được tính như một nguồn vốn dài hạn quan trọng trong hệ thống.
Trong khi đó, tiền gửi ngắn hạn của khách hàng (deposit) lại không được phép chuyển đổi thành nguồn vốn dài hạn trong cân đối.
Câu chuyện bắt đầu từ năm 2023, khi SBV cho phép 50% TGKB được tính vào LDR, hay nói cách khác TGKB có thể được sử dụng để cho vay trực tiếp xuống thị trường 1 (TT1).
Mục tiêu của quy định này là thúc đẩy thanh khoản, vốn trước đó bị nghẽn khá nhiều ở nhóm Big4 ngân hàng quốc doanh do đặc thù cấu trúc hệ thống.
Thực tế, quy định này không phải là sai. Tuy nhiên vào thời điểm đó nó có phần dư thừa, bởi đầu năm 2023 hệ thống không hề thiếu thanh khoản, thậm chí còn khá dồi dào. Nếu tôi nhớ không nhầm, thời điểm đó SBV còn mua lại khoảng 10 tỷ USD dự trữ ngoại hối, cho thấy hệ thống có lượng tiền khá lớn.
Nói cách khác, thị trường 1 lúc đó không thiếu vốn đến mức phải tạo ra một kênh dẫn trực tiếp từ TGKB.
Vấn đề cần nói thêm là TGKB và cách tiếp cận về cung tiền.
Một hiểu lầm phổ biến trong kinh tế học hiện đại là cho rằng cung tiền M2 = tiền mặt + tiền gửi. Trên thực tế cấu trúc cung tiền rộng hơn nhiều so với cách hiểu đơn giản này.
Những bình luận ngoài phạm vi kỹ thuật điều hành của SBV sẽ bị xóa. Ở đây chúng ta chỉ trao đổi về các vấn đề mang tính kỹ thuật. Các bình luận mang tính suy đoán, thuyết âm mưu, quan điểm chính trị, phản ứng cảm tính hoặc có xu hướng tranh luận không mang tính chuyên môn sẽ không được chấp nhận.
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, SBV đã ban hành nhiều quy định theo chuẩn quốc tế, đặc biệt là áp dụng các nguyên tắc từ Basel gần như nguyên bản vào hệ thống.
Tuy nhiên điều tôi chưa hiểu là: Basel cho phép mức độ linh hoạt rất lớn trong quản trị bảng cân đối, với tư duy quản trị mang tính tổng thể và rộng hơn. Trong khi đó, ở Việt Nam việc điều hành vẫn dựa khá nhiều vào Thông tư 22, vốn có tiền thân là Thông tư 36/2014, tức là một khung pháp lý đã tồn tại hơn 12 năm.
Một điểm nữa tôi thấy khá khó hiểu là: có những giai đoạn SBV nới lỏng cung tiền rất mạnh, thậm chí cho phép những nguồn vốn không thực sự ổn định như TGKB được tính như một nguồn vốn dài hạn quan trọng trong hệ thống.
Trong khi đó, tiền gửi ngắn hạn của khách hàng (deposit) lại không được phép chuyển đổi thành nguồn vốn dài hạn trong cân đối.
Câu chuyện bắt đầu từ năm 2023, khi SBV cho phép 50% TGKB được tính vào LDR, hay nói cách khác TGKB có thể được sử dụng để cho vay trực tiếp xuống thị trường 1 (TT1).
Mục tiêu của quy định này là thúc đẩy thanh khoản, vốn trước đó bị nghẽn khá nhiều ở nhóm Big4 ngân hàng quốc doanh do đặc thù cấu trúc hệ thống.
Thực tế, quy định này không phải là sai. Tuy nhiên vào thời điểm đó nó có phần dư thừa, bởi đầu năm 2023 hệ thống không hề thiếu thanh khoản, thậm chí còn khá dồi dào. Nếu tôi nhớ không nhầm, thời điểm đó SBV còn mua lại khoảng 10 tỷ USD dự trữ ngoại hối, cho thấy hệ thống có lượng tiền khá lớn.
Nói cách khác, thị trường 1 lúc đó không thiếu vốn đến mức phải tạo ra một kênh dẫn trực tiếp từ TGKB.
Vấn đề cần nói thêm là TGKB và cách tiếp cận về cung tiền.
Một hiểu lầm phổ biến trong kinh tế học hiện đại là cho rằng cung tiền M2 = tiền mặt + tiền gửi. Trên thực tế cấu trúc cung tiền rộng hơn nhiều so với cách hiểu đơn giản này.

Bài viết khác
