SVB – Kỳ cuối- Mức độ ảnh hưởng

Ok, mình nghĩ việc phân tích xác chết cũng chỉ tới thế, để đơn giản cho mọi người hiểu rõ hơn, bank (ngân hàng) nó chết không đơn giản như KOL (Key Opinion Leader - Người dẫn dắt dư luận) nói là interest rate (lãi suất) tăng, giá tài sản giảm. Mà sâu bên trong đó là vấn đề về ALM (Asset Liability Management - Quản lý tài sản và nợ), cũng là một kinh nghiệm quản lý hay. Như trong phần 4 mình có trình bày, nếu nó tồn tại, chúng ta lại khen vào CASA (Current Account Savings Account - Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn) cao. Mình nghĩ nên bàn nhiều hơn về sự kiện này.
Rồi kết luận thì Fed (Federal Reserve - Cục Dự trữ Liên bang Mỹ) cũng nhảy vào cứu bằng cách giống SBV (State Bank of Vietnam - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) (sao không cứu luôn từ lúc đầu nhờ), và cũng là cách duy nhất: bơm thanh khoản, thiếu gì bơm nấy rồi giải chấp dần. Cái điểm mấu chốt trong vấn đề của SVB (Silicon Valley Bank - Ngân hàng Thung lũng Silicon) là lô HTM (Held-to-Maturity - Giữ đến đáo hạn) và AFS (Available-for-Sale - Tài sản tài chính sẵn sàng để bán) đề âm quá vốn, trong khi điểm ăn tiền của bank (ngân hàng) là deposit portfolio (danh mục tiền gửi) thì giờ đã không còn. Nên bank (ngân hàng) này giờ “không đồng”.
Ôi, nào hãy nói về hệ lụy của vụ này. Đừng quan tâm góc độ thị trường. Nói về câu chuyện quản lý capital (vốn) trước đi.

I. Hệ lụy của việc quá chi là nhiều standard (chuẩn mực)
Vấn đề của bank (ngân hàng) Mỹ nói riêng và cái thế giới văn minh nói chung là nó thích mark-to-market (đánh giá theo giá thị trường) và ghi nhận mark-to-market cho bất kỳ thứ gì nó nghĩ là bán và sinh profit (lợi nhuận).
Ví dụ ngay như vụ SVB (Ngân hàng Thung lũng Silicon) cũng thế. Giả sử nó không ghi nhận AFS (Tài sản tài chính sẵn sàng để bán), thì cần gì phải raise capital (huy động vốn) khi thiếu liquidity (thanh khoản), thế thì làm quái gì cho cái trigger (kích hoạt) đi rút tiền. Nhưng ngay trong contingency plan (kế hoạch dự phòng) trong sách giáo khoa cũng bảo là thiếu capital (vốn) thì xin thêm vốn, thiếu liquidity (thanh khoản) thì đi vay tiền hoặc bán tài sản (nhân tiện thì bạn có thể xin quyển đó từ Hedge - Quỹ phòng hộ). Và bọn SVB này cũng chắc chắn không phải vô can, P&L (Profit and Loss - Báo cáo lợi nhuận và lỗ) thì lời, còn Comprehensive Income (Thu nhập toàn diện) thì lỗ lòi. Năm sau giá bond (trái phiếu) tăng do Fed (Cục Dự trữ Liên bang Mỹ) giảm interest rate (lãi suất), chắc nó book (ghi nhận) ngược ra để bán kiếm lời quá. Rồi còn kiểu quy định nào lách được thì lách nữa: cái capital (vốn) thì tuân thủ, thanh khoản thì không.
Ờ, quay lại vấn đề, ở đây mình muốn nói hãy giống như Banking Book (Sổ ngân hàng - Danh mục không giao dịch) và Trading Book (Sổ giao dịch - Danh mục giao dịch) của Basel (Basel Accords - Hiệp ước Basel), tách book chỉ cần cần vậy. Nếu bán tài sản trên Banking Book (Sổ ngân hàng) thì ghi nhận lãi lỗ, còn đừng nảy nòi ra cái ông IFRS 9 (International Financial Reporting Standard 9 - Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế số 9), đúng là không hiểu gì luôn. Ờ, mục tiêu của IFRS 9 chắc chắn là để đánh giá đúng giá trị của tài sản, nhất là mấy khoản loan (khoản vay), rồi để dự phòng cho chuẩn, nhưng chính cái này lại trở nên không chuẩn xác. Cụ thể như trường hợp của SVB, nếu mà cứ để im, bank (ngân hàng) dùng repo (giao dịch mua lại) tới chết để nuôi lô trái phiếu, thì chắc cũng không chết. Vì vẫn còn NIM (Net Interest Margin - Biên lãi ròng) mà, đừng đem đi raise capital (huy động vốn).
Nói thật với mọi người chứ năm 2019, Bộ Tài chính cũng ra một quy định oái oăm là phải dự phòng trái phiếu chính phủ. Ớ, quy định này tới 2022 phải hủy bỏ. Vì sao? Vì trái phiếu chính phủ không phải chỉ để đầu tư, nó là để làm thanh khoản, đầu tư chỉ là mục đích không chính của nó. Nếu bank (ngân hàng) thừa tiền, bank (ngân hàng) sẽ mua TPCP (Trái phiếu Chính phủ) thay vì để cash (tiền mặt) vậy thôi, vừa có thể dùng làm repo (giao dịch mua lại), vừa có lãi, còn hơn để tiền mặt. Ờ, thì thi thoảng trading (giao dịch) kiếm lời (nói vậy chứ thời kỳ hoàng kim thì bond (trái phiếu) nuôi cả khối Treasury - Phòng giao dịch trái phiếu).
Nói chung, ở đây mình nghĩ cứ như Việt Nam là hay nhất với loại tài sản tài chính này: cứ historical cost (giá gốc) + credit provision (dự phòng tín dụng), còn lại là câu chuyện về NIM (Biên lãi ròng) mà. Nên chung quy lại thì SVB chết vì nhiều quy định, nhưng lại cũng lách nhiều quy định.
Nghĩ rộng ra thì cả một cái thế giới “não to” bên kia bán cầu nghĩ ra đủ loại standard (chuẩn mực) để cho hệ thống an toàn hơn, nhưng chính từ những standard (chuẩn mực) đó, nó trở nên méo mó và thiếu stability (ổn định). Cái này mình không khen bank (ngân hàng) Việt Nam, nhưng mọi người cứ thử tính độ stability (ổn định) của TPCP (Trái phiếu Chính phủ) Việt Nam với nền interest rate (lãi suất), mọi người sẽ thấy bank (ngân hàng) Việt Nam nó ổn, rất nhiều bank (ngân hàng) ổn, xử lý đẹp và không cần quá ồn ào.

Bài viết khác

Trong tín dụng ở Việt Nam có một khái niệm rất đơn giản là “Collateralization” (cho vay dựa trên tài sản đảm bảo) hay hiểu là “Monetization” (chuyển tài sản thành khả năng vay vốn) cũng được. Nó đơn giản là cho vay dựa trên tài sản đảm bảo (TSĐB). Còn dòng tiền, thẩm định … Đọc tiếp "Tiến thoái lưỡng nan trong tín dụng"
Đã đọc khá nhiều bài viết các bạn gửi về cả page (trang) và nick cá nhân Admin về chuyện Việt Nam thiếu “funding liquid” (thanh khoản tài trợ / nguồn vốn khả dụng) nên lãi suất lên cao, do nào là bán USD của SBV (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) hay do không … Đọc tiếp "Việt Nam thiếu gì tiền?"
Chuyện là gần tròn 10Y (10 năm) mấy cái quả giấy phép Rating (xếp hạng tín nhiệm) được đem ra thảo luận, FB (Facebook) nó cũng nhắc lại bài viết của mình trước đây. Và hiện tại nó vẫn đang là Dead-business (mô hình kinh doanh không hiệu quả) nặng nề. Và ông nào cầm … Đọc tiếp "Tại sao Rating ở Việt Nam vẫn sẽ là Dead- Business"
error: Content is protected !!