For Risk Analyst and Other Analyst

Sometimes (đôi khi), bạn thấy doing Risk Manager job (việc làm Risk Manager) là most boring job (việc chán nhất) trên đời, vì nó … not practical (không thực tế), not profitable (không ra tiền), not pragmatic (không thực dụng), not immediate benefit (không được ăn ngay)... You’re right (bạn đúng).


Sometimes (đôi khi), bạn làm Analyst và thấy your opinions (ý kiến của bạn) được đưa ra với purpose (mục đích) to please (làm hài lòng) readers’ views (quan điểm của người đọc) hơn là your own views (quan điểm của bạn). You’re right (bạn đúng).
Sometimes (đôi khi), bạn thấy your job (công việc của bạn) chỉ là writing reports (viết báo cáo) và running (chạy) a few models (mô hình) that don’t make money (không ra tiền)... You’re right (bạn đúng).


Sometimes (đôi khi), bạn thấy bạn learn (học) too much (quá nhiều), nào CFA (Chartered Financial Analyst - Chứng chỉ Phân tích Tài chính), FRM (Financial Risk Manager - Chứng chỉ Quản lý Rủi ro Tài chính), ACCA (Association of Chartered Certified Accountants - Chứng chỉ Kế toán Quốc tế)... nhưng your job (công việc) doesn’t even touch (không hề động tới) them… You’re right (bạn đúng).
But (nhưng)...


You look at (bạn xem) model pha-kè (phake - giả tạo) có thể create (tạo ra) gì.
Please look at (hãy nhìn) SVB case (vụ SVB). Why (tại sao) mình cứ say (bảo) this case (vụ này) là once in 10 years (10 năm có 1) và là lesson (bài học) that (mà) FRM folks (bọn FRM) put straight (đưa luôn) into books (vào sách), because (vì) nó quá damn good (chi là hay) cho những people (người) doing Risk (làm Quản lý Rủi ro).
Old model (mô hình cũ) thì give (cho ra) bad result (kết quả xấu), customers (khách hàng) withdraw money (rút tiền) khi interest rate increases (lãi suất tăng). Thế là SVB’s CFO (CFO của SVB), CFO nhé, not CRO (Chief Risk Officer - Giám đốc Rủi ro), pushing change (đẩy thay đổi) freaking assumptions (giả định) của model thành no impact (không ảnh hưởng) (à, chỉ slight impact (ảnh hưởng nhẹ)) và only explain vaguely (chỉ giải thích đại khái) kiểu… behavioral model (mô hình hành vi).


In Vietnam (ở Việt Nam), thì gap-risk (rủi ro chênh lệch) is much less (ít hơn nhiều), nhưng look at (nhìn) last year (năm ngoái) xem. We (chúng ta) faced (bị) strong outflow (dòng tiền ra mạnh) khi interest rate increases (tăng lãi suất). So remember (nên nhớ), risk model must be conservative (mô hình rủi ro phải thận trọng). But (nhưng) US banks (Bank Mỹ) also cherry-pick (chọn lọc) all the time (suốt). Honestly (mà nói trắng ra), which bank (bank nào) isn’t like that (chẳng như nhau). Always try (cố gắng) to handle technically (xử lý kỹ thuật) để meet (đủ) ratios (tỷ lệ), meet conditions (điều kiện).


Personally (bản thân mình), I feel (cảm thấy) Risk Managers hay Sell-side Analysts (Analyst bên bán) in general (nói chung) should be given (được tạo) conditions (điều kiện) about knowledge (kiến thức) để have (có) more independent perspective (cái nhìn độc lập hơn). Especially (gì chứ) in Market and ALM (Asset-Liability Management - Quản lý Tài sản và Nợ), most (hầu hết) Risk Analysts lack (thiếu) market knowledge (kiến thức thị trường). It’s also (kiểu cái này là do) about voice (tiếng nói) nữa. Departments (bộ phận) that make money (kiếm ra tiền) và more practical (thiết thực hơn) thì indeed (đúng là) their voice has more weight (tiếng nói có trọng lượng hơn)... until (cho tới khi) bank-run (rút tiền hàng loạt).
With (với) increasing complexity (mức độ phức tạp ngày càng tăng) của Vietnamese Banks (Bank Việt), I also hope (hy vọng) that risk (rủi ro) has more voice (có tiếng nói hơn) và even (cả) more knowledge (kiến thức hơn) nữa.

Bài viết khác

Trong tín dụng ở Việt Nam có một khái niệm rất đơn giản là “Collateralization” (cho vay dựa trên tài sản đảm bảo) hay hiểu là “Monetization” (chuyển tài sản thành khả năng vay vốn) cũng được. Nó đơn giản là cho vay dựa trên tài sản đảm bảo (TSĐB). Còn dòng tiền, thẩm định … Đọc tiếp "Tiến thoái lưỡng nan trong tín dụng"
Đã đọc khá nhiều bài viết các bạn gửi về cả page (trang) và nick cá nhân Admin về chuyện Việt Nam thiếu “funding liquid” (thanh khoản tài trợ / nguồn vốn khả dụng) nên lãi suất lên cao, do nào là bán USD của SBV (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) hay do không … Đọc tiếp "Việt Nam thiếu gì tiền?"
Chuyện là gần tròn 10Y (10 năm) mấy cái quả giấy phép Rating (xếp hạng tín nhiệm) được đem ra thảo luận, FB (Facebook) nó cũng nhắc lại bài viết của mình trước đây. Và hiện tại nó vẫn đang là Dead-business (mô hình kinh doanh không hiệu quả) nặng nề. Và ông nào cầm … Đọc tiếp "Tại sao Rating ở Việt Nam vẫn sẽ là Dead- Business"
error: Content is protected !!