Deal này không ngon- Part phụ

Có bạn chưa hiểu tại sao mình bảo đừng quá lo chuyện giá vàng tăng khiến VIC “tèo”, mà nên quan tâm nhiều hơn tới rủi ro tín dụng (credit risk) của VIC. Vì thực tế exposure (mức độ chịu rủi ro) của họ với giá vàng không lớn như mọi người nghĩ.

Đây, ví dụ cụ thể số má luôn nhé.

Case Study: VIC dùng Gold Swap để giảm Cost of Fund?

Giả sử khách hàng gửi cho VIC 100 cây vàng, tại thời điểm:

XAUVND = 160 triệu/lượng

VIC mang vị thế này đi swap (hoán đổi) với CTG trong kỳ hạn 5 năm.

Sau 5 năm:

Giá vàng tăng gấp đôi:

XAUVND = 320 triệu/lượng

Trong khi đó VIC cam kết trả cho khách:

110% số vàng gốc gửi ban đầu

(Tức khách gửi 100 cây → nhận lại 110 cây).

Cấu trúc giao dịch

[ Leg 1 – T0 ]

Khách gửi:
100 cây vàng cho VIC.

VIC swap với CTG → nhận VND → trả chi phí funding (huy động vốn) theo chênh lệch lãi suất.

COF (Cost of Funding – chi phí vốn) phần hedge (phòng hộ) được tính gần đúng:

  • Swap UVND ≈ 4%
  • Swap UXAU ≈ 4.3%

=> Tổng annualized COF (chi phí vốn năm hóa):

≈ 8.3%/năm

Nếu compound (lãi kép) 5 năm:

(1 + 8.3%)^5 − 1 ≈ 49%

Tức riêng phần hedge/swap:

Cost ≈ 49% sau 5 năm.

[ Leg 2 – T5 ]

Đến đáo hạn:

VIC phải trả khách:
110 cây vàng.

Trong đó:

  • 100 cây là gốc
  • 10 cây là phần interest/premium (lãi / thưởng thêm)

Nếu giá vàng tăng từ:

160 triệu → 320 triệu

Thì riêng phần extra 10 cây sẽ tạo thêm COF:

10% + 10% × % tăng giá vàng

Nếu vàng tăng gấp đôi:

=> phần này ≈ 20%

Tổng COF ước tính

Nếu vàng tăng gấp đôi:

  • Hedge COF ≈ 49%
  • Extra gold obligation ≈ 20%

=> Tổng COF ≈ 69% / 5Y

Nếu vàng tăng gấp 3:

=> Tổng COF ≈ 79% / 5Y

Ý chính

Dù nhìn con số rất cao, nhưng:

69–79% / 5Y vẫn thấp hơn khá nhiều so với việc:

  • vay USD offshore (quốc tế)
  • rồi swap về VND

Có thời điểm implied cost (chi phí vốn ngầm định) kiểu này lên tới:

≈ 110% / 5Y

Nên nhìn từ góc độ treasury/funding (quản trị nguồn vốn), cấu trúc kiểu VIC làm không hẳn vô lý.

Điểm khác biệt khiến VIC giảm được COF nằm ở chính cấu trúc tách biệt TT1 (thị trường tín dụng thực) và TT2 (thị trường liên ngân hàng) của Việt Nam.

COF của VIC với CTG bản chất nằm ở TT1, nhưng lại được quote (định giá) theo TT2 thông qua giao dịch swap.

Mọi người thấy rõ chuyện này nhất ở ví dụ:

Có USD gửi tiết kiệm → đem cầm cố vay VND → lãi suất lúc nào cũng rẻ hơn vay VND trực tiếp.

Bản chất cũng là tận dụng chênh lệch cấu trúc funding giữa các thị trường.

Bài viết khác

Nhắc lại một lần nữa, đây mới chỉ là “dự thảo”, tức là tại thời điểm hiện tại tỷ lệ này vẫn là 30%. Thế mà báo chí cứ làm như ngày mai áp dụng luôn. Để một tỷ lệ thuộc TT1 như SFL (Short-term Funding for Long-term Lending – tỷ lệ sử dụng vốn … Đọc tiếp "[ Dự thảo sửa đổi SFL]"
Hôm workshop thứ Sáu tuần trước chúng tôi cũng đã nói về vấn đề này. Tỷ lệ runoff cho tiền gửi tổ chức trong dự thảo hiện tại là quá khắt khe, ở mức 50–100%, trong khi đây lại là nguồn vốn có tính ổn định (stable) rất cao. Muốn lãi suất thực sự ổn … Đọc tiếp "[ Xu hướng de-regulation là tất yếu ]"
[ Thành bại tại SBV ] Thương vụ này không hiếm, flow hiện tại là tốt. Buổi sinh hoạt chuyên môn hôm qua, xin cảm ơn sự góp mặt của các anh/chị ALM, Dealer, MRM. Chúng tôi nhận ra rằng vấn đề lớn nhất ở hiện tại không nằm ở dòng vốn, không nằm ở … Đọc tiếp "Thành bại tại SBV"
error: Content is protected !!