Phân biệt fact và opinion trong đầu tư

Cái này mình thấy rất necessary (cần thiết), và once in a while (lâu lâu), thì Hedge cũng viết cái gọi là phổ cập basic knowledge (kiến thức căn bản). Cái này very very necessary (rất rất cần thiết) cho new investors (nhà đầu tư mới), và even (kể cả) veteran investors (nhà đầu tư gạo cội).
FACT (SỰ THẬT): Những thứ definitely true (chắc chắn đúng) và linear (tuyến tính) từ fact (sự thật).
OPINION (Ý KIẾN): Những opinions (ý kiến) có thể base on fact (dựa trên sự thật), nhưng không linear (không tuyến tính) và có probability of happening (xác suất xảy ra).
For example (ví dụ), gần nhất trên page hoặc trên media (truyền thông), hay có concept (khái niệm): “SBV lowers interest rate (hạ lãi suất) = Inject money (bơm tiền), SBV và banks (ngân hàng) sẽ lend (cho vay) với cheaper interest rate (lãi suất rẻ hơn).” Completely not true (hoàn toàn không phải vậy).
FACT (SỰ THẬT): SBV lowers operating interest rate (hạ lãi suất điều hành), reduces (giảm) OMO interest rate (lãi suất Nghiệp vụ Thị trường Mở) xuống, nhưng không mean (có nghĩa) là inject money (bơm tiền). Specifically (cụ thể), SBV có thể không lower interest rate (hạ lãi suất), mà release (thả) phần bill outstanding (tín phiếu đang lưu hành) hiện tại ra, thì Interbank rate (lãi suất liên ngân hàng) vẫn go down (xuống). SBV không even (thậm chí) intervene (tác động) bằng interest rate (lãi suất), mà intervene (tác động) bằng money supply (lượng tiền). Thế nên mới có cái news article (bài báo) như dưới. Và cái này là inject liquidity (bơm thanh khoản), không phải inject money (bơm tiền). To lend (để cho vay) được, cần có ratio (tỷ lệ).
OPINION (Ý KIẾN) (CÁI NÀY CỦA AD): Because (bởi vì) market (thị trường) không need money (cần tiền). Due to (do) difficulty in credit growth (tăng trưởng tín dụng là khó), especially (đặc biệt) credit growth (tăng trưởng tín dụng) vào các SBV-oriented production and business sectors (lĩnh vực sản xuất kinh doanh được SBV định hướng) là difficult (khó), nên dù amount of money (lượng tiền) có nhiều, nhưng nó vẫn không push down (đẩy xuống) TT1 (Thị trường 1 - thị trường bán lẻ). On the contrary (ngược lại), nếu cứ leave (để) nó ở trên TT2 (Thị trường 2 - thị trường liên ngân hàng), thì sooner or later (sớm muộn), nó cause (gây) reverse pressure (áp lực ngược) trên exchange rate (tỷ giá). Unless (trừ khi) có một strong flow (dòng chảy mạnh) vào Việt Nam, for example (ví dụ) như cái deal (thỏa thuận) SMBC mua VP (Vietcombank) kia kìa, thì may (có thể) ra. Nhưng Fed interest rate (lãi suất Fed) vẫn maintain (giữ) ít nhất là above (trên) 4% until (tới) end of the year (cuối năm), do đó strong flow (dòng chảy mạnh) rất difficult (khó) để disburse (giải ngân) immediately (ngay và luôn).
So (nên), theo mình, không có story (chuyện) có money flow (dòng tiền) vào Việt Nam, cũng không có too much (quá nhiều) fluctuation (biến động) trong this period (khoảng thời gian này). Probably (có lẽ) fluctuate (giật giật) around (loanh quanh) up and down (trên dưới) 1100. Đấy, this is Opinion (đây là ý kiến).


Bài viết khác
Trong tín dụng ở Việt Nam có một khái niệm rất đơn giản là “Collateralization” (cho vay dựa trên tài sản đảm bảo) hay hiểu là “Monetization” (chuyển tài sản thành khả năng vay vốn) cũng được. Nó đơn giản là cho vay dựa trên tài sản đảm bảo (TSĐB). Còn dòng tiền, thẩm định … Đọc tiếp "Tiến thoái lưỡng nan trong tín dụng"
Đã đọc khá nhiều bài viết các bạn gửi về cả page (trang) và nick cá nhân Admin về chuyện Việt Nam thiếu “funding liquid” (thanh khoản tài trợ / nguồn vốn khả dụng) nên lãi suất lên cao, do nào là bán USD của SBV (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) hay do không … Đọc tiếp "Việt Nam thiếu gì tiền?"
Chuyện là gần tròn 10Y (10 năm) mấy cái quả giấy phép Rating (xếp hạng tín nhiệm) được đem ra thảo luận, FB (Facebook) nó cũng nhắc lại bài viết của mình trước đây. Và hiện tại nó vẫn đang là Dead-business (mô hình kinh doanh không hiệu quả) nặng nề. Và ông nào cầm … Đọc tiếp "Tại sao Rating ở Việt Nam vẫn sẽ là Dead- Business"
